Khi ngân hàng
nâng cấp bán lẻ

 

Hiệp hội ngân hàng tiết kiệm thế giới (WSBI) cho biết, trong một nghiên cứu mới đây, ở các nước phát triển có 80% dân số tiếp cận được dịch vụ tài chính, 20% không có khả năng hoặc không thể tiếp cận được. Tỷ lệ này ngược lại với những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Đó là một trong những lư do v́ sao một số ngân hàng nh́n thấy dư địa lớn trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam và bắt tay vào, nổi bật có ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) và ngân hàng Sài G̣n thương tín (Sacombank).  

 

Những bước khởi động

Khi ACB chọn Standard Chartered (Anh) làm cổ đông chiến lược trong số những ngân hàng nước ngoài mua cổ phần của ACB hồi tháng 4.2005, một trong những lư do chọn Standard Chartered được ACB giải thích là ngân hàng này sẽ cung cấp, hỗ trợ ACB kỹ thuật trong lĩnh vực quản lư rủi ro, xây dựng thương hiệu và kênh phân phối. Đó cũng là một trong những lư do mà Sacombank đưa ra khi chọn đối tác là tập đoàn ngân hàng ANZ (Úc).

Ông Lư Xuân Hải, tổng giám đốc ACB cho biết, hiện nay ACB sử dụng khoảng 50% vốn của tổng danh mục cho vay cho nhu cầu vay tiêu dùng cá nhân như mua nhà, ôtô, kinh doanh hộ gia đ́nh…, chiếm khoảng 22% tổng vốn huy động.

Không chỉ có ngân hàng trong nước “tỉnh giấc” trước tiềm năng của thị trường ngân hàng bán lẻ, các ngân hàng nước ngoài cũng đă vào cuộc, như HSBC và ANZ. Ông Ngô Quốc Ḥa, giám đốc phát triển kinh doanh, bộ phận dịch vụ tài chính ngân hàng của HSBC cho biết, HSBC vừa triển khai dịch vụ tài chính cá nhân như cho vay mua nhà, xe hơi, tiêu dùng; sản phẩm thẻ rút tiền tự động quốc tế… tại thị trường miền Bắc.

 Nước đang đến chân

Theo PGS. TS Nguyễn Thị Mùi, viện trưởng Viện khoa học tài chính, nhận định trên Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 3.6.2005, việc cung cấp dịch vụ ngân hàng thời gian qua vẫn c̣n những hạn chế. Thứ nhất là năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại c̣n yếu (vốn tự có nhỏ, khả năng sinh lời thấp, nợ xấu cao) nên hạn chế khả năng huy động vốn, cho vay và phát triển sản phẩm mới, nhiều nguy cơ rủi ro trong kinh doanh. Thứ hai, dịch vụ của ngân hàng thương mại chưa tạo được thương hiệu riêng, chất lượng dịch vụ thấp, tính tiện ích của một số dịch vụ đối với khách hàng chưa cao. Thứ ba, nền kinh tế vẫn nặng về thanh toán bằng tiền mặt. Đối tượng sử dụng thẻ thanh toán chủ yếu vẫn là những người làm việc trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, du lịch…

Bên cạnh đó, khi hội nhập quốc tế, Việt Nam có nghĩa vụ đối xử như nhau giữa ngân hàng Việt Nam và ngân hàng nước ngoài. Ngay trong hiệp định thương mại Việt – Mỹ, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đă có thể mở các điểm giao dịch và đặt máy ATM ngoài trụ sở ngân hàng. Một chuyên gia ngân hàng cho biết, máy ATM của ngân hàng nước ngoài hiện đại, hoạt động như một ngân hàng thu nhỏ, trong khi đó, máy ATM của ngân hàng trong nước c̣n nhiều hạn chế, bất cập. V́ thế, các ngân hàng Việt Nam cũng đang dần đối mặt với những thách thức lớn từ các ngân hàng nước ngoài.

Hồng Sương